Nhà Trần (1226 -1400), phần 1 – Thời kỳ xây dựng & 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông

by Tim Bui
Nhà Trần (1226 -1400), phần 1 Thời kỳ xây dựng & 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông

LÝ THÀNH PHƯƠNG

Nhà Trần là triều đại quân chủ chuyên chế trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi Trần Cảnh lên ngôi vào năm 1226, sau khi được Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi, cho đến khi Hồ Quý Ly soán ngôi vào năm 1400, tổng cộng 175 năm. Nếu không kể thời kỳ Dương Nhật Lễ, thì nhà Trần truyền qua 12 đời vua.

Trong giai đoạn nắm giữ quyền lực, nhà Trần vẫn đóng đô ở Thăng Long – kinh đô triều Lý cũ, tiếp tục mở rộng và phát triển sự hưng thịnh có từ đời nhà Lý. Về chính sách chính trị, các hoàng đế nhà Trần cũng xây dựng bộ máy nhà nước hoàn thiện hơn so với nhà Lý, họ tạo nên một hệ thống đặc biệt, trong đó các Hoàng đế sớm nhường ngôi cho Thái tử mà lui về làm Thái thượng hoàng, tuy nhiên vẫn cùng vị Hoàng đế mới điều hành chính sự.

Việc này được đánh giá là tích cực, khi ngôi Hoàng đế sớm có chủ, tránh được việc tranh giành ngôi vua như triều đại nhà Lý trước đó; và bản thân vị Hoàng đế sẽ tiếp xúc và làm quen việc cai trị cho đến khi trưởng thành. Các mặt kinh tếxã hộigiáo dục và nghệ thuật cũng hoàn chỉnh hơn và cho thấy Nho giáoĐạo giáo đã có ảnh hưởng rõ rệt tới triều đại, tạo ra cục diện Tam giáo đồng nguyên, sự cân bằng ảnh hưởng của Phật giáo – Nho giáo – Đạo giáo.

Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông được coi là một danh nhân văn hóa nổi tiếng, người bảo trợ Phật giáo và Đạo giáo, thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nổi tiếng và truyền đến đời nay. Bên cạnh đó, những danh thần Đoàn Nhữ HàiMạc Đĩnh ChiNguyễn HiềnNguyễn Trung NgạnTrương Hán SiêuChu Văn AnTrần Quang Triều,… là những cái tên nổi danh về tri thức, thơ văn, góp phần to lớn tạo nên thời kỳ nhà Trần hưng thịnh văn hóa.

Dưới triều Trần, lực lượng quân đội đặc biệt được chú trọng phát triển đủ sức đánh dẹp các cuộc nội loạn và đương đầu với quân đội các nước xung quanh. Lực lượng quân đội nhà Trần thiện chiến nhất là thủy binh, rồi kỵ binhbộ binhtượng binh… chính sách chia thực ấp cho các thân tộc trong họ, mỗi thế lực trong dòng tộc đều có quân đội tinh nhuệ là nền tảng lớn khiến quân đội nhà Trần tiêu diệt được cuộc xâm phạm của quân đội Nhà NguyênĐế quốc Mông Cổ qua ba lần vào năm 12581285 và 1287. Thời gian này xuất hiện một danh tướng kiệt xuất, vốn là tôn thất nhà Trần, chính là Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn; người có vai trò quan trọng trong chiến thắng quân Nguyên vào năm 1285 và 1287.

Nhà Trần lấy ngôi nhà Lý bằng biện pháp hôn nhân. Nhà Trần từ vai trò là ngoại thích của nhà Lý đã giành ngôi. Do đó, để tránh họa ngoại thích, nhà Trần chủ trương chỉ kết hôn với người trong họ.Tuy cẩn thận đề phòng nạn ngoại thích bằng việc kết hôn nội tộc, nhưng về sau thì việc kết hôn nội tộc trong họ Trần cũng thưa dần. Từ khi Trần Nghệ Tông trọng dụng Hồ Quý Ly là một ngoại thích, lập tức nhà Trần cũng gặp “họa ngoại thích” và cuối cùng cũng mất về tay ngoại thích, giống như nhà Lý trước đó.

Trần Thái Tông

Trần Cảnh khi lên ngôi vua chỉ mới tám tuổi, niên hiệu là Thái Tông. Thái sư Trần Thủ Độ, chú của Trần Cảnh và Thái thượng hoàng Trần Thừa nhiếp chính và thực sự nắm quyền hành.

Trần Thủ Độ tuy bị đánh giá là người không có lễ giáo, thất học nhưng mưu lược hơn người, trị việc trong nước đều cẩn thận và chu toàn.

Về mọi mặt, thời Thái Tông, Trần Thủ Độ giúp củng cố các vấn đề chính nhất là: Mở khoa thi Tam giáo (Đạo giáoNho giáoPhật giáo); định lại luật pháp, soạn ra bộ Quốc triều hình luật gồm 20 quyển để định tội danh trong nước; mở rộng phía ngoài thành Đại La (Thăng Long), trong thành dựng cung, điện, lầu, các và nhà lang vũ ở hai bên phía đông và tây, bên tả là cung Thánh Từ (nơi Thái thượng hoàng ở), bên hữu là cung Quan Triều (nơi Hoàng đế ở); thủy lợi cũng được coi trọng, sai hoạn quan Nguyễn Bang Cốc chỉ huy binh lính phủ mình đào vét kênh Trầm và kênh Hào từ phủ Thanh Hóa đến địa giới phía nam Diễn Châu; định luật hành chính, chia đất nước làm 12 lộ, làm sổ hộ khẩu, định lại chế độ thuế khóa một cách hợp lý; mở rộng thông thương nơi biên giới, để có thể giao thương với nhà Tống ở Giang Nam. Mỗi khi có dịp hạn hán, triều đình thường ban hành luật miễn thuế khóa, mở lương thóc rồi đại xá.

Ngày 24/2/1258, Trần Thái Tông truyền ngôi cho Thái tử Trần Hoảng, tức Hoàng đế Trần Thánh Tông. Trần Thái Tông lui về cung Thánh Từ làm Thái thượng hoàng.Từ đây, nhà Trần theo lệ truyền ngôi sớm cho thái tử, thứ nhất để tránh việc tranh giành ngôi báu giữa các con (do đã sớm được định đoạt), thứ nữa là rèn luyện cho vị hoàng đế mới cai trị đất nước càng sớm càng tốt.

Đánh Chiêm Thành

Trước đó khi nhà Lý suy, Chiêm Thành thường hay xua binh công phá ở vùng Nghệ An, dân chết vô số, nay vua Thái Tông lên ngôi mà Chiêm Thành không sang thông hiếu nên vua rất giận. Năm 1252, Thái Tông dẫn binh đi chinh phạt Chiêm Thành, bắt được nhiều thần thiếp và cướp được nhiều của cải. Uy danh Đại Việt đối với Chiêm Thành lại được thiết lập.

Chiến tranh với Nguyên Mông lần thứ nhất


Ở phương Bắc, người Mông Cổ dần và xâm chiếm Trung Quốc. Sau khi tiêu diệt nhà Kim phía Bắc, các vua Mông Cổ tiến xuống phía Nam để diệt nước Nam Tống vốn đã suy yếu khi bị nhà Kim của người Nữ Chân xâm lấn từ đầu thế kỷ 12. Để tạo thế bao vây Nam Tống, vua Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý (Vân Nam (1254) và sau đó chuẩn bị đánh sang Đại Việt.

Cuối năm 
1257, tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai mang ba vạn quân tiến vào nước Đại Việt qua đường Vân Nam. Vua Trần Thái Tông đích thân ra chiến trận. Quân Trần cố gắng chặn nhưng quân Mông Cổ vẫn tiến vào được Thăng Long. Nhân dân Thăng Long theo lệnh của triều đình đã thực hiện “vườn không nhà trống,” rút về Thiên Mạc (Hà Nam). Ngột Lương Hợp Thai kéo quân vào Thăng Long chưa đầy một tháng thì bị thiếu lương thực. Nhân cơ hội đó quân Đại Việt phản công ở Đông Bộ Đầu (Từ Liêm-Hà Nội). Quân Mông Cổ thua phải rút khỏi Thăng Long, đến vùng Quy Hóa (Yên Bái) bị quân

Trần Thánh Tông

Dưới thời của Thánh Tông hoàng đế, mọi việc chính sự vẫn đều chu toàn, nhà Trần tiếp tục thịnh trị.

Năm 1262, Thánh Tông đổi hương Tức Mạc (quê gốc của nhà Trần ở tỉnh Nam Định) thành phủ Thiên Trường, sau đó phủ được nâng thành lộ. Từ đó về sau, Thượng hoàng thường ngự ở phủ Thiên Tường giúp vua trong việc cai trị nước.

Năm 1264, Thái sư Trần Thủ Độ qua đời, thọ 71 tuổi. Thái sư công chính nghiêm minh, nhà Trần có được ngôi báu và sự thịnh trị đời Thái Tông phần nhiều là công sức của ông. Đến đây, vua Trần truy làm Thượng phụ Thái sư Trung Vũ đại vương.

Đối với anh em trong hoàng tộc, nhà vua luôn coi là thân thiết. Ông xuống chiếu cho các vương hầu tôn thất, khi bãi triều thì vào trong điện và lan đình. Vua cùng ăn uống với họ. Hôm nào trời tối không về được thì xếp gối dài, trải chăn rộng, kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý nhau. Còn như trong các lễ lớn như triều hạ, tiếp tân, yến tiệc thì phân biệt rõ ngôi thứ, cấp bậc cao thấp. Vì thế, các vương hầu thời ấy không ai là không hòa thuận, kính sợ và cũng không phạm lỗi khinh nhờn, kiêu căng.

Năm 1277, Thượng hoàng Thái Tông băng hà, hưởng thọ 60 tuổi, làm Thượng hoàng được 19 năm. Cùng năm đó, Thánh Tông nhường ngôi cho Hoàng thái tử Trần Khâm sử gọi là Trần Nhân Tông. \

Trần Nhân Tông

Khi Nhân Tông lên ngôi, họa giặc giã từ quân Nguyên ở phía Bắc đang kéo đến. Năm đó, quân Nguyên đánh diệt nhà Tống, Tả thừa tướng nhà Tống là Lục Tú Phu cõng Tống đế nhảy xuống biển chết. Hậu cung và các quan chết theo rất nhiều. Qua 7 ngày có đến hơn 10 vạn xác chết nổi lên mặt biển. Xác Tống đế cũng ở trong số đó.

Chiến tranh với Nguyên Mông lần thứ hai



Năm 1279, quân Mông diệt được Nam Tống. Từ năm 1280, vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt đã lập ra nhà Nguyên. Để lấy cớ đánh Đại Việt, nhà Nguyên cho Toa Đô xin qua Đại Việt để mượn đường đánh Chiêm Thành. Sau nhiều hoạt động ngoại giao hòa hoãn bất thành, cuối cùng chiến tranh bùng phát. Cuối năm 1284, nhà Nguyên liền phái hoàng tử Thoát Hoan và tướng Toa Đô mang quân đánh hai đường nam, bắc kẹp lại để chiếm Đại Việt. Thoát Hoan đi từ Quảng Tây còn Toa Đô đi đường biển từ cảng Quảng Châu, trước hết đánh vào Chiêm Thành rồi đánh “gọng kìm” thốc lên từ phía Nam Đại Việt.

Đây là lần xâm lược Đại Việt với quy mô lớn nhất của nhà Nguyên (huy động hơn 50 vạn quân) và cũng là cuộc kháng chiến gian khổ nhất của nhà Trần chống phương Bắc, quyết định sự tồn vong của Đại Việt lúc đó.

Để chuẩn bị cho chiến tranh chống quân xâm lược, nhà Trần cho xét duyệt sổ đinh, chuẩn bị lương thảo lực lượng. Phong cho Hưng Đạo vương 
Trần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội toàn quốc, sai chọn các quân hiệu có tài chỉ huy, chia đi nắm giữ các đơn vị. Sau nhiều đợt rút lui để tránh thế mạnh của các đạo quân Mông, quân Đại Việt dùng chiến thuật “vườn không nhà trống” để quân địch không có lương ăn và bị bệnh dịch do không hợp thủy thổ bản địa, nhà Trần tổ chức phản công vào cuối xuân, đầu hè năm 1285. Với những chiến thắng ở Tây KếtHàm TửChương Dương, quân Trần đại thắng, bắt giết được Toa Đô. Thoát Hoan thu tàn quân chạy về Bắc.

Chiến tranh với Nguyên Mông lần thứ ba


Thắng lợi năm 1285 cơ bản xác định sự tồn tại của Đại Việt và củng cố lòng tin của người Việt có thể đương đầu được với đạo quân hùng mạnh của Mông Nguyên liền kề phía Bắc. Bởi vậy trong lần kháng chiến thứ 3 chống Mông Nguyên năm 1287, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn nói với vua Trần: “… Quân ta đã quen việc chiến trận, mà quân nó thì sợ phải đi xa… Theo như thần thấy, phá được chúng là điều chắc chắn”. Nhà Trần tiếp tục chủ động áp dụng chiến thuật tránh thế mạnh, triệt lương thảo. Cuối cùng quân Trần đại phá quân Nguyên ở sông Bạch Đằng tháng 4 năm 1288, bắt sống Nguyên soái Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ. Thoát Hoan một lần nữa chạy trốn về bắc.

Sau thất bại lần thứ ba ở Đại Việt, 
Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt vẫn chưa muốn đình chiến. Sang các năm sau, vua Nguyên tiếp tục muốn điều binh sang nhưng chưa gặp thời cơ thuận tiện. Tới năm 1294 lại định điều binh lần nữa thì chính Hốt Tất Liệt băng hà. Cháu nội là Nguyên Thành Tông lên ngôi không muốn gây chiến với Đại Việt nữa. Việc chiến tranh với nhà Nguyên từ đó mới chấm dứt.Cuối cùng, quân đội nhà Trần toàn thắng vào năm 1285 và năm 1287. Đến đây, nhà Trần bắt đầu bước vào thời thịnh trị lâu dài tiếp theo.


Năm 1290, Thượng hoàng Thánh Tông băng hà, hưởng dương 50 tuổi. Trị vì được 21 năm, thượng hoàng được 11 năm. Ông là người thiên tư, nhân ái, kế nghiệp Thái Tông khiến quốc gia hưng thịnh, lại giúp Nhân Tông chống giặc ngoại xâm, thực là công lao to lớn. Miếu hiệu Thánh Tông hoàng đế cũng là rất tôn xứng.

Trong nước sau thời kỳ chiến tranh, mất mùa thất bát. Ngay năm Thánh Tông băng hà, trong triều lục đục chuẩn bị tang lễ thì nhân dân ngoài kinh thành lại đói to. Ngay lập tức, triều đình xuống chiếu phát thóc gạo công chẩn cấp dân nghèo và miễn thuế nhân đinh. Năm sau, tiếp tục chết đói, 2 năm này liên tiếp nạn đói hoành hành, Nhân Tông lại ban chiếu cho nô dịch, nô lệ có thể mua ruộng đất để tăng cường cải thiện tình hình lương thực. Tình hình dần dần cải thiện.Năm 1293, Nhân Tông nhường ngôi cho Hoàng thái tử Trần Thuyên, sử gọi là Trần Anh Tông

You may also like

Verified by MonsterInsights